Văn Hóa Ẩm Thực Việt Nam

Bề dày lịch sử lâu đời và nền văn hóa đa dạng đã tạo nên một thiên đường ẩm thực Việt Nam.

Ẩm thực, hiểu đơn giản là ăn uống, không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu cơ bản của con người mà còn thể hiện bề dày lịch sử và nền văn hóa của một quốc gia. Các món ăn cùng với lối ăn uống qua từng giai đoạn sẽ nói lên được cuộc sống, con người của giai đoạn đó, của vùng đất đó. Bởi thế, không sai khi nói, khám phá ẩm thực một đất nước cũng chính là một trong những cách thức nhanh nhất để hiểu về đất nước đó.

Tại Việt Nam, ẩm thực có thể xem là trung tâm của văn hóa Việt Nam. Bởi trong ẩm thực, người ta được ngắm nhìn một Việt Nam sở hữu bề dày lịch sử lâu đời cùng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. 

Hãy cùng Culture tìm hiểu về một nền ẩm thực Việt Nam đầy cảm hứng qua bài viết dưới đây nhé!

Yếu tố hình thành nền văn hóa ẩm thực Việt Nam 

Nhìn chung, ẩm thực Việt Nam có sự ảnh hưởng lớn bởi 2 nhân tố: đặc điểm lịch sử và đặc điểm địa lý tự nhiên. Chính những bước ngoặt trong lịch sử Việt Nam cùng với đặc trưng địa lý đã tạo nên một ẩm thực Việt Nam khác biệt, mang nhiều màu sắc – gom gọn trong 2 tính từ: đa dạng và phong phú.

Đặc điểm lịch sử

Nếu tính từ thời điểm có sự xuất hiện của con người thì đã có hàng vạn năm trước Công nguyên. Còn nếu tính từ thời kỳ dựng nước đến nay, lịch sử dân tộc Việt Nam đã có hơn 4000 năm.

Từ thời Kinh Dương Vương (2919 TCN – 2792 TCN) đến kỷ Hồng Bàng (? – 258 TCN), tức trong khoảng 2661 năm, không có sử sách nào ghi lại về văn hóa ẩm thực. Tuy nhiên, qua những truyền thuyết được lưu truyền trong dân gian, có thể thấy rằng một số món ăn Việt Nam thời nay có nguồn gốc từ thời xa xưa. Điển hình là bánh chưng và bánh dày. Hai loại bánh truyền thống này cho đến nay vẫn được quảng đại quần chúng ưa thích và có mặt trong ẩm thực Việt Nam như một lẽ tất yếu. Trong đó, bánh chưng được xem là yếu tố tạo nên hương vị ngày Tết Nguyên đán Việt Nam ngày nay – “Thịt mỡ, dưa hành câu đối đỏ / Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”. Căn cứ vào truyền thuyết về Bánh chưng – Bánh dày, hai loại bánh này đã có từ thời dân tộc Việt Nam bắt đầu dựng nước, khoảng 4000 năm. Trải qua bao nhiêu thử thách và biến cố lịch sử, sự tồn tại của bánh chưng và bánh dày ở thời điểm hiện tại góp phần mang một ý nghĩa to lớn: sức mạnh sinh tồn của một nền ẩm thực dân tộc.

Trải qua các giai đoạn lịch sử nhiều thăng trầm, ẩm thực Việt Nam ngày nay mang một sự đa dạng “rất Việt Nam”, bởi có sự ảnh hưởng tích cực của ẩm thực Trung Hoa, Pháp, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á. Tại sao nói là ảnh hưởng tích cực? Bởi người Việt Nam biết học hỏi, tiếp thu những tinh hoa ẩm thực của các quốc gia, từ đó phát triển trên cơ sở có chọn lọc, vẫn gìn giữ vẹn nguyên bản sắc dân tộc để những người con xa xứ khi thưởng thức các món ăn Việt Nam vẫn cảm thấy như đang được trở về với quê hương xứ sở, với tuổi ấu thơ bên gia đình, bạn bè.

Đặc điểm địa lý tự nhiên

Từ xưa, Việt Nam đã là một nước nông nghiệp thuộc đới khí hậu nhiệt đới, vùng nhiệt đới gió mùa. Do đó, Việt Nam nổi bật với cây trồng xanh tốt bốn mùa, phong phú các loại rau, củ, quả. Sở hữu bờ biển dài cùng với việc có nhiều sông, lạch, ngòi khiến Việt Nam có nguồn cung cấp thủy hải sản phong phú với đủ các chủng loại. Cùng với đó, khí hậu nhiệt đới gió mùa tại đây không chỉ thuận lợi cho việc phát triển cây trồng mà còn phù hợp để phát triển chăn nuôi gia súc – gia cầm. 

Ngoài ra, lãnh thổ Việt Nam được chia ra ba miền rõ rệt là Bắc, Trung và Nam. Chính các đặc điểm về địa lý, văn hóa, dân tộc, khí hậu đã quy định những đặc điểm riêng của ẩm thực từng vùng miền. Miền Bắc có khí hậu bốn mùa, miền Trung nắng nóng khắc nghiệt, miền Nam là một vùng đất tốt, sản vật dồi dào, nguồn lương thực, thực phẩm sung túc. Bên cạnh đó, mỗi miền lại có phương pháp chế biến riêng tạo nên sự phong phú cho món ăn, trở thành những ưu điểm nổi bật trong văn hoá ẩm thực Việt Nam. Điều đó góp phần làm nên một nền ẩm thực Việt Nam phong phú và đa dạng.

Nền văn hóa ẩm thực Việt Nam: Đầy cảm hứng!

Chính bởi đặc điểm lịch sử và đặc điểm địa lý tự nhiên đã tạo nên một nền văn hóa ẩm thực Việt Nam đa dạng và phong phú – được thể hiện qua cách chế biến món ăn, cách bày trí món ăn, cách ăn uống và cách ứng xử của mọi người trong bữa ăn. 

Dựa theo ý kiến của Tiến sĩ sử học Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, ẩm thực Việt Nam có 9 đặc trưng như sau:

Tính hòa đồng đa dạng

Việt Nam có 54 dân tộc anh em. Mỗi dân tộc đều có nét văn hóa ẩm thực riêng. Dù vậy, bao đời nay, 54 dân tộc vốn là anh em chung một nhà nên trong ẩm thực cũng có sự tiếp thu để từ đó chế biến thành chất riêng của mình. Đây cũng là một điểm nổi bật trong ẩm thực Việt trải dài từ Nam chí Bắc.

Vì là một quốc gia nông nghiệp với nền văn minh lúa nước từ ngàn xưa, Việt Nam có cơm là món ăn chính hầu như luôn có mặt trong các bữa ăn của gia đình Việt khắp mọi vùng miền. Ngoài ra, Việt Nam cũng sở hữu rất nhiều món ăn và nguyên liệu nấu ăn có nguồn gốc từ lúa gạo khác, chẳng hạn như bún, phở, bánh canh, bánh đa,.. trở thành đặc sản của nhiều tỉnh thành địa phương. 

Tính ít mỡ

Nếu để ý kỹ, bạn sẽ thấy các món ăn của Việt Nam hầu như đều ít mỡ, không dùng nhiều dầu như đồ ăn Trung Quốc, cũng không dùng nhiều thịt như đồ ăn các nước phương Tây. Bởi vậy, số lượng các món ăn có dinh dưỡng từ động vật thường ít hơn. Những loại thịt được dùng phổ biến nhất là thịt lợn, bò, gà, ngan, vịt, các loại tôm, cá, cua, ốc, hến, trai, sò,… 

Thay vào đó, ẩm thực Việt Nam đa phần đều có nhiều rau, củ, quả được chế biến dưới nhiều hình thức như luộc, xào, làm dưa, nấu canh. Ví dụ như các món gỏi, nộm, dưa muối,…

Tính đậm đà hương vị

Ẩm thực Việt Nam có sự pha trộn hài hòa giữa nhiều loại nguyên liệu phụ (gia vị) tạo nên những món ăn đậm đà hương vị, không quá cay, không quá béo, không quá ngọt. Chẳng hạn như nấu cá kho thì cho nhiều nước mắm và tiêu, nấu canh khổ qua cũng đừng quên dằn thêm chút nước mắm, nướng thịt thì phải ướp tẩm nhiều gia vị đậm đà,…

Các nguyên liệu phụ được thêm vào món ăn trong chế biến có thể kể đến như:

  • Nhiều loại rau thơm: hành lá, thì là, kinh giới, tía tô, húng thơm, mùi tàu,…
  • Gia vị thực vật: tiêu, sả, tỏi, ớt, gừng, chanh, tắc, hẹ,…
  • Gia vị lên men: các loại mắm, giấm, mẻ,…

Bên cạnh đó, mỗi món ăn đều có loại nước chấm riêng phù hợp giúp hài hòa và tròn vị hơn. Nếu ăn bún măng vịt thì phải chấm với nước mắm gừng, nếu ăn bánh xèo thì phải chấm với nước mắm chua ngọt, nếu ăn bún đậu thì phải chấm với mắm tôm;…

Tính tổng hoà nhiều chất và nhiều vị

Người Việt ít khi ăn món nào riêng biệt mà thường sẽ thưởng thức nhiều một. Một bữa ăn sẽ là sự tổng hòa của nhiều món ăn bao gồm nhiều chất, nhiều vị.

Tính tổng hòa này thể hiện rõ nét trong các món lẩu của người Việt. Một nồi lẩu bao giờ cũng có nhiều loại thực phẩm: từ chất đạm (thịt, tôm, cá, mực, cua,…) đến chất xơ (rau, củ,…) Ngoài ra, ẩm thực Việt còn là sự tổng hợp của nhiều vị (chua, cay, mặn, đắng, ngọt,…). Ví như món cơm tấm, ta sẽ có thể cảm nhận được vị mằn mặn và hương thơm lừng của thịt nướng, độ béo của trứng ốp la, vị chua chua của dưa, vị ngọt, mặn hòa lẫn cùng chút cay cay của nước mắm,…

Trong đó, nước mắm có thể xem là một nét đặc biệt trong ẩm thực Việt Nam mà các nước khác (nhất là các nước phương tây không có). Chỉ từ nước mắm, người Việt có thể chế biến ra nhiều loại khác nhau, gia giảm hương vị để phù hợp với từng món ăn đi kèm. Ví dụ, với cơm tấm, bún chả giò sẽ là nước mắm chua ngọt có thêm dưa chua đi kèm; với các món có vịt hoặc gà (như bún măng vịt, cháo vịt, cháo gà…) sẽ là nước mắm gừng; với các món cá nướng hoặc khô nướng sẽ là nước mắm me…

Cách ăn tổng hòa nhiều chất và nhiều vị của người Việt Nam tác động lên đủ mọi giác quan: khứu giác ngửi mùi thơm ngào ngạt từ những món ăn được dọn lên, thị giác nhìn màu sắc hài hoà của bàn ăn, vị giác nếm vị ngon của đồ ăn, thính giác nghe tiếng kêu giòn tan của thức ăn (người Việt khi uống trà ngon sẽ thích chép miệng; uống rượu ngon thích “khà” lên mấy tiếng) và đôi khi còn có cả xúc giác khi dùng tay cầm thức ăn xé (ví như khi ăn món thịt gà, thịt vịt luộc).

Tính ngon và lành

Sự kết hợp giữa các món ăn và các vị lại với nhau cũng là có lý do của riêng nó. Không chỉ có ngon, mà còn phải lành. Đây là điều người Việt Nam luôn chú trọng trong ẩm thực, được xem là triết lý chế biến món ăn. Các loại gia vị sẽ được phối trộn một cách tương sinh hài hòa. Cụ thể, món ăn dễ gây lạnh bụng (tính hàn) buộc phải có gia vị cay nóng (tính nhiệt) đi kèm và ngược lại; ngược lại, các nguyên liệu tính nóng (ấm) phải được nấu cùng nguyên liệu tính lạnh (mát). Đó là quy luật cân bằng âm – dương mà chỉ ẩm thực Việt Nam mới có.

Bên cạnh đó, các món ăn kỵ nhau không thể kết hợp trong một món hay không được ăn cùng lúc vì không ngon, hoặc có khả năng gây hại cho sức khỏe cũng được dân gian đúc kết thành nhiều kinh nghiệm lưu truyền qua nhiều thế hệ. Chẳng hạn như những thực phẩm có tính mát (thịt vịt, ốc) thường sẽ được chế biến cùng với các gia vị ấm nóng (gừng, rau răm,…). 

Tuy nhiên, tính ngon sẽ là yêu cầu hàng đầu trong ẩm thực, còn tính lành đôi khi được bỏ qua. Bởi vậy trong hệ thống ẩm thực người Việt ít có những món hết sức cầu kỳ, hầm nhừ ninh kỹ như ẩm thực Trung Hoa, cũng không thiên về bày biện có tính thẩm mỹ cao độ như ẩm thực Nhật Bản, mà thiên về phối trộn gia vị một cách tinh tế để món ăn được ngon, hoặc sử dụng những nguyên liệu dai, giòn thưởng thức rất thú vị dù không thực sự bổ béo. Ví dụ như các món măng, chân cánh gà, phủ tạng động vật…

Dùng đũa

Giống với một số ít các nước châu Á khác, trong văn hóa ẩm thực Việt, đũa là một nét đặc trưng thú vị mà ngay từ khi còn bé thơ, người Việt đã được học cách sử dụng chúng. Thử hỏi có nơi nào trên đất Việt này không dùng đũa bao giờ. Hầu hết các món ăn – từ kho đến xào, từ chiên đến nướng – người Việt đều dùng đũa. 

Đũa của người Việt Nam được sử dụng một cách vô cùng linh hoạt với nhiều chức năng khác nhau: gắp, xé, xẻ, dầm, trộn, vét, khoắng và đặc biệt là giúp nối cho cánh tay người sử dụng dài ra hơn để dễ dàng gắp những món ăn ở xa tầm với. Đi kèm với đó là nghệ thuật gắp: gắp sao cho khéo, gắp sao cho không để rơi thức ăn,…

Tính cộng đồng, tính tập thể

Người Việt đoàn kết. Muôn đời nay, ai cũng thấu hiểu lẽ đó. Tính cộng đồng được thể hiện rất rõ trong văn hóa người Việt, kể cả là ẩm thực. Cứ nhìn trong các bữa cơm gia đình mà xem, từ lớn đến bé, các thế hệ đều quây quần cùng nhau ăn mâm cơm tình thân. Họ bày đủ các món – từ canh đến xào, đến chiên, đến kho ra bát, tô, đĩa và dọn trong mâm hình tròn, hầu như luôn có bát nước chấm đặt chính giữa mâm. Các thức ăn, nước chấm đều được dùng chung (hoặc nếu múc riêng ra từng bát nhỏ thì cũng từ bát chung ấy). 

Tính hiếu khách

Người Việt hiếu khách, đó là nét riêng mà từ Bắc chí Nam đều có. Trước mỗi bữa ăn, người Việt thường có thói quen mời. Lời mời thể hiện sự kính trên nhường dưới, thể hiện sự lịch thiệp, thể hiện sự trân trọng,…

Tính dọn thành mâm

Người Việt có thói quen dọn sẵn thành mâm cơm trong mỗi bữa ăn. Mâm cơm sẽ có món canh, món kho, món xào,… và được dọn cùng một lúc, chứ không như phương Tây ăn món nào mới mang ra món đó.

Từ những điều kể trên, khi nói về văn hóa ẩm thực Việt Nam, ta có thể tóm lại trong 1 câu: Ẩm thực Việt Nam là cả một nghệ thuật mang tính đa dạng và hài hòa!

This post is also available in: English

#seesomething, saysomething

Culture Magazin magazine always wants to listen and receive contributions from readers.
In case you submit articles about your ideas, interesting social events or hot news that you would like to share with us, email us at info@culturerus.com or inbox us at the FB page - https://www.facebook.com/culturemagazin.
Try our test reporter once. Quality articles will be selected and posted on Culturemagazin's website and official social networking sites!
#seesomething, saysomething

Discover

Bài Liên Quan