This content is also available in: English

Hữu Vi

Điêu khắc tạc tượng là loại hình nghệ thuật xuất hiện ở Việt Nam từ lâu đời. Mới đầu, tượng chỉ xuất hiện lẻ tẻ và được làm chủ yếu bằng đá và gốm. Tuy nhiên, tới văn hóa Đông Sơn, cách ngày này khoảng 2.500 năm, khi kỹ thuật luyện kim đúc đồng của người Việt cổ đạt tới đỉnh cao thì nghệ thuật tạc tượng mới thực sự nở rộ và tượng đồng trở nên quen thuộc và phổ biến. Có thể nói, người Việt cổ thời Đông Sơn đã mở ra truyền thống và làm nên bản sắc cốt lõi của nghệ thuật tượng đồng trong suốt chiều dài lịch sử văn hóa, mỹ thuật Việt Nam.

Trong văn hóa Đông Sơn, tượng đồng có ba dòng chính là tượng tròn, tượng trang trí và vật dụng được tạo tác trong hình thức tượng tròn. Nếu như tượng tròn là một tác phẩm nghệ thuật độc lập, mang ý nghĩa điêu khắc thuần túy thì tượng trang trí được tạo ra để gắn và tô điểm cho những đồ vật quý giá, hoặc trở thành bộ phận hữu cơ của đồ vật. Bởi vậy tượng tròn luôn thể hiện sự khoáng đạt, tự nhiên còn tượng trang trí phải đảm bảo yêu cầu hài hòa nhuần nhuyễn với đồ vật. Bằng trí tưởng tượng phong phú và óc thẩm mỹ, người xưa đã biến những vật dụng bình thường hàng ngày thành những tác phẩm nghệ thuật khi gắn vào nó những khối tượng đồng.

Qua tượng đồng, người Đông Sơn miêu tả chính mình và thế giới động vật gần gũi trong cuộc sống hàng ngày như voi, hổ, hươu, cóc, rùa, rắn, chim, chó, gà… Sinh động nhất trong nhóm tượng người là tượng hai người đàn ông cõng nhau thổi khèn, tượng người đàn ông thổi khèn gắn trên cán muôi đồng Việt Khê, tượng 4 cặp trai gái đang làm tình gắn đối xứng nhau trên nắp thạp Đào Thịnh và khá nhiều dao găm có chuôi tượng người. Đàn ông thường cởi trần đóng khố, tóc xõa. Đàn bà thì mặc váy và áo chẽn ngắn, tóc vấn cao hoặc tết đuôi sam… Còn với nhóm tượng động vật, bằng những quan sát tự nhiên kỹ lưỡng đến mức thân thuộc, người Đông Sơn không chỉ miêu tả đặc điểm hình thể mà còn cả những hoạt động thường ngày của của chúng như cảnh hổ vồ mồi, rắn quấn nhau, rắn ngoạm chân hổ, voi chở trống đồng, chim đậu trên mái nhà, chim đậu trên lưng voi, cóc mẹ bồng cóc con…

Trong nghệ thuật tượng đồng Đông Sơn, bên cạnh phong cách tả thực, người Việt cổ đã khéo léo kết hợp hài hòa thủ pháp ước lệ và cách điệu nhằm mục đích biểu ý. Nhiều chi tiết tượng được giản lược, ước lệ. Mắt người chỉ được mô tả bằng một vòng tròn đơn giản. Nhưng khi cần nhấn mạnh, họ lại làm phi kích thước tự nhiên. Để biểu đạt tính phồn thực của tượng các cặp trai gái đang ái ân, họ nhấn mạnh đến dương vật chàng trai và bầu ngực cô gái. Thậm chí, để biểu đạt ý nghĩa biểu tượng nào đó, họ dùng thủ pháp phi logic tự nhiên như tượng 3 người ngồi trên mỏ một con chim, tượng rắn ngoạm chân voi, hổ ngoạm chân voi…

Kỹ nghệ đúc đồng văn hóa Đông Sơn vẫn tỏ rõ sức sống mạnh mẽ trong suốt 10 thế kỷ đầu Công nguyên chống Bắc thuộc. Tuy nhiên tượng đồng giai đoạn này không nhiều, và thường thể hiện đặc điểm giao lưu với văn hóa Trung Hoa. Bước vào thời kỳ phong kiến độc lập tự chủ, từ thế kỷ 10 đến đầu thế kỷ 20, đồng được coi là chất liệu hiếm dùng để đúc tiền, trong khi gỗ và đá được ưa chuộng làm tượng hơn cả. Mặc dù vậy, điêu khắc tượng đồng vẫn thể hiện sự tiếp nối, kế thừa truyền thống từ văn hóa Đông Sơn, đồng thời mang thêm những sắc thái, hơi thở mới mang tính thời đại. Tượng đồng thời kỳ này vẫn gồm ba dòng chính như trong văn hóa Đông Sơn. Tượng ít theo xu hướng bề thế mà đi vào những nét tinh tế, gần gũi với cuộc sống hàng ngày. Nhưng có khi lại làm rất lớn mà nổi tiếng nhất là tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, một trong “An Nam tứ đại khí” thời Lý – Trần, nay không còn, tượng Trấn Vũ đền Quán Thánh, thời Lê Trung hưng và tượng Trấn Vũ đền Trấn Vũ, thời Tây Sơn… Nhiều khi tượng đồng còn được sơn son thếp vàng như trên đồ gỗ, hoặc được khảm tam khí, nhị khí làm tăng vẻ đẹp. Phong cách nghệ thuật cũng thiên về hiện thực hơn, ít cách điệu và giản lược như tượng đồng Đông Sơn.

Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ thì tượng đồng còn được làm để đáp ứng nhu cầu tâm linh, tôn giáo. Bởi vậy, phổ biến hơn cả là các loại tượng Phật, tượng Thần linh… Ngoài ra, do các nghi lễ thờ cúng ngày càng đa dạng nên việc chế tác các vật dụng nghi lễ theo hình thức tượng tròn ngày càng trở nên phổ biến. Đó là những chiếc đèn, đỉnh trầm, lư hương… được gắn tượng hoặc tạo tác theo hình các linh vật như rồng, phượng, rùa, kỳ lân, hạc, voi, nghê, sư tử… Những vật dụng này không những vừa mang ý nghĩa tâm linh, vừa mang ý nghĩa sử dụng mà còn mang tính thẩm mỹ cao. Tượng người và các loại động vật gần gũi trong cuộc sống ít được thể hiện.

Như vậy, trong kho tàng nghệ thuật tạo hình cổ truyền Việt Nam, điêu khắc tượng đồng đã tạo thành truyền thống liên tục, từ lâu đời trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam, đồng thời mang đặc trưng, bản sắc văn hóa dân tộc rõ nét. Không chỉ đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ, tượng đồng còn được sản xuất để phục vụ các nghi lễ thờ cúng, niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng. Không những thế, bằng bàn tay tài hoa, sức sáng tạo và óc thẩm mỹ, người Việt xưa đã tạo ra những thành quả nghệ thuật phản ảnh sinh động các mặt đời sống văn hóa, xã hội Việt Nam trong lịch sử.