This content is also available in: English

Những ngày mùa đông, tiết trời lạnh khiến cho cơ thể cũng dễ bị nhiễm lạnh, dẫn đến nhiều bệnh… Quế là vị thuốc cay, ấm, có thể giúp cơ thể phòng chống tốt đối với khí lạnh. Quế cũng còn đem lại nhiều lợi ích cho con người mà ít người quan tâm đến…

Quế có tên khoa học là Cinnamomum loureirii Nees. Họ Long não (Lauraceae). Tên thương mại là Chinese cassia, Chinese cinnamon, Chinese cassia leaf oil.

Việt Nam là một trong những nước trồng rất nhiều quế, hàng năm xuất khẩu đến hàng trăm tấn quế vỏ và hàng chục tấn tinh dầu quế. Trước đây, quế tốt nhất là ở vùng Thanh Hóa, gọi là “Ngọc quan” dành để tiến vua.

Cây sinh trưởng trong rừng nhiệt đới, ẩm, ở độ cao dưới 800m. Cây mọc hoang trong rừng, hoặc trồng bằng hạt, hay chiết cành, sau 5 năm có thể thu hoạch, nhưng vỏ quế bóc sau 20-30 năm thì tốt nhất. Vỏ quế bóc vào tháng 4-5 hay 9-10 sẽ dễ hơn vì đây là giai đoạn quế làm nhựa.

Chế biến: Vỏ quế đem về ngâm nước 1 ngày, rửa sạch rồi xếp vào sọt tre kín, ủ lá chuối chung quanh khoảng 3-7 ngày rồi lấy ra để chỗ mát cho khô.

Quế cành thì thu hái vào mùa hè, phơi khô. Lá và vỏ dùng cất tinh dầu. Cành quế đầu nhỏ vót thì gọi là quế tiêm, cành nhỏ vừa là quế chi.

Vỏ quế gọi là quế thông. Quế thông gọt bỏ vỏ thô bên ngoài, lấy lớp trong gọi là quế tâm. Quế bóc ở thân, cành to, dày là quế nhục.

Công dụng

Bột và tinh dầu quế được dùng rất rộng rãi để chế biến thực phẩm trong công nghiệp cũng như trong từng gia đình. Quế dùng làm bánh, gia vị, đặc biệt nếu muốn nấu phở thì không thể thiếu quế được.

Theo Đông y, Quế được chia thành nhiều loại, tùy vị trí của vị thuốc trong cây quế.

  • Quế chi: vị cay ngọt, tính ấm, chữa cảm lạnh không có mồ hôi và tê thấp, chân tay đau buốt, dùng 5-10g hoặc phối hợp với các vị khác.
  • Quế tâm: chữa đau tim với liều 4-8g hoặc phối hợp với các vị khác.
  • Quế thông: chữa các chứng lạnh trong nội tạng…
  • Quế nhục: vị ngọt cay, tính nóng, thông huyết mạch, làm mạnh tim, tăng sức nóng, chữa các chứng trúng hàn, trúng phong, hôn mê, tim yếu.

Hàm lượng tinh dầu trong vỏ quế khá cao (1,0-4,0%), còn trong lá và cành non thường thấp (0,3-0,8%). Tinh dầu từ vỏ có màu vàng nâu nhạt, sánh, vị cay, thơm, ngọt, nóng, nặng hơn nước; với thành phần chính là (E)-cinnamaldehyd (70-95%); ngoài ra còn khoảng 100 hợp chất khác. Tinh dầu từ lá quế thường có màu nâu đậm và thành phần chủ yếu cũng là (E)¬cinnamaldehyd (60-90%). Hàm lượng (E)-cinnamaldehyd quyết định chất lượng của tinh dầu quế.

Tây y coi vỏ quế và tinh dầu quế là loại thuốc có tác dụng kích thích tăng khả năng tuần hoàn hô hấp, tăng nhu động ruột, tiêu hoá, bài tiết, gây co bóp tử cung, kích thích, miễn dịch, giãn mạch, kháng histamin và kháng khuẩn mạnh.

Trong Đông y, quế được dùng làm thuốc cấp cứu bệnh do hàn, hôn mê, mạch chậm nhỏ, đau bụng, chữa chứng tiêu hoá kém, tả lỵ, tiểu tiện khó khăn, đau lưng, mỏi gối, chân tay co quắp, ho hen, bế kinh, ung thư…

Muốn xác định được giá trị của quế cao hay thấp phải căn cứ vào nhiều yếu tố như: Địa phương cây mọc, loài quế, tuổi cây khi thu hoạch, vị trí vỏ trên cây, độ dày của vỏ.

Tuổi cây khi thu hoạch: trên 15 năm là quế tốt, trên 30 năm là đặc biệt.

Vị trí vỏ trên cây: vỏ thân từ vị trí 1,2m đến cành đầu tiên (gọi là quế Thượng châu) là tốt nhất, hướng đông là đặc biệt; Cách mặt đất 20cm đến 1,2 mét gọi là quế Hạ căn (kém Thượng châu).

Vỏ cành to gọi là quế Thượng biểu; Vỏ cành nhỏ gọi là quế chi.

Độ dày của vỏ: Nhục quế (vỏ thân, vỏ cành to), có 4 loại:

  • Loại đặc biệt: dày trên 6mm, có khi tới 10mm, có 2 lớp dầu gọi là lưỡng chỉ phân du, màu nâu đen, dày trên 2mm.
  • Loại 1: dày 4,5-6mm, có lớp dầu dày trên 1,5-2mm, màu nâu đen.
  • Loại 2: dày 3 đến dưới 4,5mm. Lớp dầu dày trên 1 – 1,5mm, màu nâu đen.
  • Loại 3: dày 2 đến dưới 3mm. Lớp dầu dày 1mm màu nâu đen.

Đơn thuốc kinh nghiệm dùng quế

Củng cố hệ tim mạch: Quế giúp củng cố sức khỏe hệ tim mạch vì thế tránh cho cơ thể khỏi các rắc rối liên quan tới tim mạch. Cho một lượng quế nhỏ khi chế biến thức ăn rất tốt cho những người mắc bệnh động mạch vành và bệnh cao huyết áp.

Chống nghẽn mạch: Hợp chất Cinnamaldehyde trong quế rất hiệu quả trong việc ngăn ngừa máu đóng và vón cục vì thế rất tốt cho những người bị bệnh tim mạch.

Tăng cường lưu thông máu: Quế giúp làm sạch thành mạch máu và tăng cường lưu thông máu. Việc lưu thông máu dễ dàng sẽ cải thiện sức khoẻ do đảm bảo cung cấp đủ ôxy cho các tế bào trong cơ thể, tăng cường trao đổi chất, giảm nguy cơ mắc bệnh tim nếu dùng quế đều hàng ngày.

Bổ não: Quế kích thích hoạt động của não như một loại thuốc bổ, giúp loại trừ sự căng thẳng thần kinh cũng như suy giảm trí nhớ. Các nghiên cứu cũng cho thấy ngửi quế làm tăng nhận thức, trí nhớ hiệu quả, tăng khả năng tập trung và nhạy bén.

Giảm đau đầu và chứng đau nửa đầu: Đau đầu do đi nhiều ngoài trời gió lạnh có thể điều trị bằng cách đắp hỗn hợp mỏng bột quế trộn với nước lên vùng trán và thái dương.

Giảm lượng đường trong máu: Quế giúp kiểm soát lượng đường trong máu, rất tốt trong việc điều trị bệnh tiểu đường type 2. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng dùng nửa thìa quế mỗi ngày giúp cải thiện mức độ nhạy cảm insulin và điều chỉnh lượng glucose trong máu. Khi mức insulin được cải thiện, cân nặng và bệnh tim mạch sẽ được kiểm soát. Điều này rất là tốt vì mức độ insulin cao có nghĩa tăng thêm trọng lượng cơ thể.

Giảm cân: Quế có thể giúp bạn giữ dáng gọn gàng hơn, vì nó làm hòa tan chất béo trong các tế bào. Hiện nay, nhiều nhà sản xuất đã chế biến quế dưới dạng bột để dễ dùng. Tuy nhiên, nhưng vì mùi quế hăng, cay, nhiều nhà sản xuất đã thêm đường cho dễ uống; việc cho thêm đường tuy dễ uống nhưng có thể ảnh hưởng đến việc giảm cân, vì vậy, nếu muốn dùng hàng ngày, nên tìm loại quế hữu cơ không có đường, tốt nhất là dùng túi trà quế.

Quế có thể giúp giảm cân bằng cách thêm quế vào trong sữa chua, pho mát, bột yến mạch, khoai lang, rau hoặc bất cứ thứ gì, nhưng với số lượng nhỏ để tránh các chỉ định về lượng đường trong máu.

Giảm cholesterol: Các nhà dinh dưỡng cho biết là 1/2 thìa bột quế (tương đương 2g) mỗi ngày có thể làm giảm cholesterol LDL. Quế cũng giúp giảm lượng cholesterol LDL xấu và triglycerid.

Hỗ trợ trị các vấn đề về hô hấp: Quế rất hữu ích với người mắc bệnh cảm. Những người bị cảm lạnh, cảm cúm, đau họng, ho dai dẳng, viêm xoang, nên dùng 1 thìa mật ong trộn với 1/4 thìa quế ăn hằng ngày trong 3 ngày liên tục.

Giảm các bệnh truyền nhiễm: Với khả năng chống khuẩn, chống nấm, chống vi rút, chống các vật ký sinh và là chất khử trùng… cho nên quế rất hữu hiệu trong việc chống viêm nhiễm cả bên trong và ngoài. Quế được xem là rất hiệu quả trong việc chống lại bệnh nấm âm đạo, nấm vòm họng. ngừa bệnh viêm nhiễm vùng âm đạo, nhiễm trùng vòm họng, loét dạ dày và chấy trên đầu.

Cải thiện hệ miễn dịch: Hỗn hợp mật ong và quế rất tốt giúp tăng cường hệ miễn dịch, giảm mệt mỏi, làm chậm quá trình lão hoá và kéo dài tuổi thọ.

Tốt cho hệ tiêu hoá: Cho quế vào món ăn hàng ngày giúp tiêu hoá tốt. Quế rất hiệu quả với chứng khó tiêu, buồn nôn, rối loạn dạ dày, tiêu chảy và chứng đầy hơi. Quế có tác dụng giảm bớt lượng gas trong dạ dày và ruột vì thế rất tốt cho tiêu hoá.

Giảm viêm đường tiết niệu: Những người ăn quế đều thì nguy cơ bị viêm nhiễm đường tiết niệu rất thấp. Quế giúp lợi tiểu tự nhiên và hỗ trợ bài tiết nước tiểu.

Giảm đau cơ và đau khớp: Những người ăn quế đều hàng ngày thấy giảm đau các cơ và khớp, tăng cường sự dẻo dai của các cơ và khớp xương.

Giảm đau do chứng viêm khớp: Trong quế có chứa nhiều hợp chất chống viêm có tác dụng giảm đau và viêm do bệnh thấp khớp gây ra. Nghiên cứu của trường đại học Copenhagen cho biết nếu dùng nửa thìa bột quế và 1 thìa mật ong mỗi sáng sẽ giúp giảm đau khớp đáng kể (sau 1 tuần sử dụng) và có thể đi lại không đau (sau 1 tháng dùng).

Tăng cường sự rắn chắc của các mô: Quế giúp tăng sự chắc khoẻ và tính đàn hồi, co giãn của các mô trong cơ thể.

Tạo dễ chịu trong kỳ kinh nguyệt: Quế rất tốt cho phụ nữ, giúp giảm thiểu chứng chuột rút và những khó chịu khác trong thời gian kinh nguyệt.

Ngừa sâu răng và sạch miệng: Quế từ lâu đã được biết đến là một trong những thảo dược có tác dụng điều trị sâu răng và hơi thở có mùi. Chỉ cần nhai một mẩu quế nhỏ hay súc miệng với nước quế cũng giúp sạch miệng và mang lại hơi thở thơm tho.

Giảm ngứa: Hỗn hợp mật ong và quế giúp giảm ngứa do côn trùng đốt.

Ngừa mụn và mụn đầu đen: Quế giúp thải các tạp chất trong máu vì thế rất hữu hiệu trong việc giảm mụn. Dùng hỗn hợp bột quế và vài giọt nước cốt chanh đắp lên những vùng bị mụn và mụn đầu đen sẽ có hiệu quả.

Chống ung thư: Nghiên cứu được công bố bởi Bộ Nông Nghiệp Mỹ cho thấy quế có tác dụng khống chế sự sinh sôi của các tế bào ung thư bạch cầu. Ngoài ra, chất xơ và canxi trong quế giúp loại bỏ các dịch mật thừa, ngăn ngừa những ảnh hưởng không tốt với tế bào ruột, từ đó giảm nguy cơ ung thư ruột kết.

Trị hôi chân, lạnh chân: Một số công ty đã chế biến quế thành dạng bột, ép vào các miếng lót trong giầy hoặc các đôi hài, dép…, giúp chân ấm trong những ngày mùa đông và làm cho chân không còn mùi hôi do đi giầy thời gian dài.

Bảo quản thực phẩm: Khi cho 1 lượng quế nhỏ vào chế biến thực phẩm giúp ngăn ngừa sự phát triển và sinh sôi vi khuẩn vì thế giúp bảo quản thức ăn được tươi ngon hơn.

Hiện nay, đa số quế được dùng dưới dạng bột hoặc tinh dầu.Nếu dùng dạng bột, nên dùng liều 3-4g/ngày dưới dạng hãm với nước nóng uống. Không nên đun sôi vì tinh dầu quế sẽ bay hơi và giảm tác dụng.Dùng dạng tinh dầu, cho 1-2 giọt vào nước nóng, uống hoặc bôi ngoài da tùy theo nhu cầu.

Tóm lại: Quế là món gia vị, là vị thuốc có lợi cho sức khỏe nhất là những ngày đông giá rét.

SHARE
Previous articleCùng Hòa Mình Vào Không Khí Giáng Sinh
Next articleĐể Ngày Lễ Thêm Hạnh Phúc

Lecturer of Traditional Medicines. Graduated from Internal Medicine program and continued to pursue his study in Traditional Medicines. A researcher and author of numerous valuable books in traditional medicines.