This content is also available in: English

Pauline Ho

Tôi vẫn còn nhớ rất rõ lần đầu tiên tôi được ngước mắt trông thấy cây thông Giáng sinh. Đó là vào tháng 11/1979, chỉ một tháng sau khi đặt chân tới Canada từ một trại tị nạn của Liên hợp quốc ở Malaysia.

Tôi chưa bao giờ nhìn thấy thứ gì đẹp đẽ dường ấy. Một loài cây to lớn đứng án ngữ ngay giữa trái tim Toronto được trang hoàng lộng lẫy bằng những quả bóng lấp lóa, những chiếc nơ nhung mượt và tỏa sáng dập dìu với muôn triệu ngọn đèn. Cây thông hồi đó sau này in dấu trong tôi như một biểu tượng của xứ Canada. Một truyền thống hàng năm mà tôi vẫn tiếp diễn đến khi là một cậu trai trưởng thành – nỗi khao khát được có một bức ảnh hoàn mỹ về cây thông Giáng sinh để mừng ngày Thiên Chúa ra đời.

Khi năm này qua năm khác ra đi, tôi bắt đầu tự hỏi truyền thống cây Giáng sinh từ đâu mà có? Không có chỗ nào trong Kinh thánh tôi từng đọc có nói gì đến chuyện trang hoàng một cái cây để mừng Thiên Chúa giáng sinh cả. Vậy thì loài cây thường xanh trang trí đẹp đẽ kia làm thế nào có thể trở thành biểu tượng quốc tế của Giáng sinh cho được?

Người cổ đại trên khắp thế giới từ lâu đã gán cho những ý nghĩa đặc biệt đối với những loài cây, loài hoa mãi mãi xanh tươi cả năm ròng cả trong tiết trời lạnh giá. Việc trang trí nhà cửa của chúng ta trong mùa lễ hội với thông, tùng và cây vả có thể đã có nguồn gốc từ những nhóm dân cư cổ đại có tục treo những nhành cây thường xanh lớn ngoài khung cửa và cửa sổ để xua đuổi phù thủy, tà ma, vong quỷ và bệnh tật.

Những nhành cây thường xanh vẫn nhắc  nhở những người sống ở vùng Bắc bán cầu về mọi loài cây dám sinh trưởng khi thần mặt trời đang vượng khí và mùa hè quay trở lại trong những dịp mừng lễ đông chí trong ngày 21 và 22 của tháng 12.

Trong tiết đông chí này, những người Ai Cập thời cổ sơ bày đầy trong nhà các bụi cây cọ xanh tươi, biểu trưng cho thắng lợi của sự sống đối với cái chết khi thần mặt trời Ra bắt đầu hồi sinh từ  sự  uể oải của mùa đông khiến thân thể yếu ớt.

Những người La Mã thời cổ tổ chức ăn mừng đông chí bằng bữa tiệc có tên Saturnalia, một khoảng thời gian hòa bình và bình đẳng đặc biệt khi các bên không được phép tuyên chiến, nô lệ và chủ có thể ăn cùng mâm, và người ta trao quà cho nhau như một biểu tượng của tình thương và tình bằng hữu. Để kỉ niệm ngày lễ này, họ trang hoàng nhà cửa và đền đài bằng những nhánh cây thường xanh.

Ở Bắc Âu, người Celtic trang trí những đền đá cổ xưa bằng nhánh cây thường xanh để biểu trưng cho cuộc sống vĩnh cửu. Đi xa hơn nữa về phía Bắc, người Viking còn cho rằng cây thường xanh là loài cây của Balder, vị thần ánh sáng và hòa bình.

Ghi chép lịch sử đầu tiên của cây Giáng sinh có trang trí có thể tìm thấy ở Riga, Latvia năm 1510. Những cây thời sơ trung cổ ở khu vực này vẫn được trang trí bằng táo, các loai hạt, chà là, bánh vòng và hoa giấy, sau đó đem đốt sạch khi ai nấy hò hát và nhảy múa quanh đống lửa.

Nhưng phải đến năm 1846 khi Nữ hoàng Victoria, người chồng Đức Albert và các con của bà được vẽ chân dung trước một cây vả có các hộp quả treo lủng lẳng trên cành thì cây Giáng sinh mới trở thành nghi thức toàn cầu.

Kể từ đó, mỗi năm có hơn 300 triệu cây Giáng sinh được trồng trong trang trại, và tạo lập một ngành công nghiệp trị giá 2 tỉ đôla. Ấy là con số này chưa tính đến giấy phép do các vườn quốc gia ở Canada và Mỹ cấp phép cho những ai được quyền chặt cây mang từ rừng về.

Cây Giáng sinh đã đi một chặng đường dài từ gốc tích ngoại giáo của mình tới khi trở thành biểu tượng quốc tế vượt qua phạm vi Thiên Chúa giáo. Giờ loại cây này là đặc điểm chính của ngày lễ của người tiêu dùng, đánh dấu bởi danh sách nhận quà của ông già Noel dành cho các em nhỏ  ngoan hay nghịch ngợm. Có vẻ như không Giáng sinh nào trọn vẹn nếu không có tục lệ mở quà dưới cây thông Giáng sinh được trang hoàng hoàn mỹ.