This content is also available in: English

Tác giả: Bảo Ngọc

Cồng chiêng là thứ nhạc cụ kim loại gắn bó bền chặt và mật thiết với cuộc sống của người dân Tây Nguyên bình dị. Từ xa xưa, nó đã được coi là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người. Hơn thế nó còn dùng để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, những vất vả trong lao động và những sinh hoạt hàng ngày của người dân vùng đất đỏ bazan. Cồng chiêng là như một biểu tượng vĩnh cửu của vùng đất Tây Nguyên nói riêng và cả đất nước Việt Nam nói chung.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng của Việt Nam và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai… Nhiều thông tin cho rằng, cồng chiêng chính là hậu duệ của loại đàn đá từ thời cổ đại, ngày nay người dân sáng tạo không ngừng và phát triển thành một loại nhạc cụ độc đáo hơn. Thuở sơ khai, cồng chiêng là nhạc cụ được người dân tây nguyên ưu ái lựa chọn để đánh lên mừng mùa lúa mới, hay là chào lễ xuống đồng; hơn thế cồng chiêng được coi như một nhạc cụ của tín ngưỡng. Người tây nguyên tâm niệm rằng, đánh cồng chiêng chính là gọi tâm linh. giao tiếp với siêu nhiên, đánh thức tâm hồn con người… Một thứ âm thanh đầy mê hoặc, khi thì ngân nga sâu lắng, khi lại thôi thúc trầm hùng, âm thanh hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng với đất trời và con người nơi đây.

Tồn tại và hình thành trên mảnh đất Tây nguyên hùng vĩ hàng ngàn đời nay, không gian văn hóa cồng chiêng đã đạt đến tầm cao mới. Ngày nay, đã có rất nhiều loại cồng chiêng ra đời từ sự hăng say sáng tạo của những người nghệ nhân lao động, đặc sắc và đa dạng hơn rất nhiều về chủng loại, phong phú về đặc tính âm thanh. Cồng là loại có núm, chiêng không có núm. Các dàn cồng chiêng được lập ra phải tuân thủ các quy tắc về việc sắp xếp các thang âm, dàn cồng chiêng có thể diễn tấu những bản nhạc đa âm với các hình thức hòa điệu khác nhau. Điều này lý giải vì sao âm thanh cồng chiêng khi được chơi rất nhiều âm sắc nhưng lại rất đều đặn và có chiều sâu. Các bài cồng chiêng cũng rất đa dạng do sự bắt nguồn của từng vùng. Mỗi vùng, mỗi dân tộc đều có những bản nhạc cồng chiêng riêng để diễn tả vẻ đẹp thiên nhiên, khát vọng của con người… Người Giarai có các bài chiêng Juan, Trum vang… Người Bana có các bài chiêng: Xa Trăng, Sakapo, Atâu, Tơrơi… Một thế giới quan đầy sinh động và màu sắc núi rừng, cuốn hút người dân một cách vô thức vào các điệu múa hào hứng của cả cộng đồng trong những ngày hội của buôn làng.

 

Mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có những đặc trưng riêng của cồng chiêng. Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ, hoặc dùng theo dàn, theo bộ từ 2 đến 12 chiếc, cũng có bộ 18 đến 20 chiếc như bộ chiêng của người Giarai. Điều đặc biệt trong dàn nhạc này mỗi người chỉ đánh một chiếc cồng, hoặc chiêng tùy theo sự sắp xếp của người chỉ huy. Chiếc cồng, chiêng đánh có vang hay không? Có cuốn hay không? Còn tùy thuộc vào trình độ điêu luyện của người chơi trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác của những người nghệ nhân. Dàn cồng chiêng bố cục như một dàn nhạc thật sự, những người chơi cồng chiêng chẳng qua bất cứ trường lớp nào, bản năng trình diễn, bản năng thể hiện được bộc lộ một cách chân thực nhất, điêu luyện đến bất ngờ.

Ngày 25-11-2005, Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO chính thức công nhận là kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Với người Tây Nguyên, cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng là tài sản vô giá. Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên không những là một giá trị nghệ thuật đã từ lâu được khẳng định trong đời sống xã hội mà còn là kết tinh của hồn thiêng sông núi qua bao thế hệ. Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất cũng như những giá trị về nghệ thuật đơn thuần mà nó còn là “tiếng nói” của con người và của thần linh theo quan niệm “vạn vật hữu linh”.