This content is also available in: English

Pauline Ho

Đối với gần 10 triệu trẻ em và thanh thiếu niên ở Canada, tháng 9 là cột mốc khởi đầu năm mới. Khi một năm học mới bắt đầu, tình bạn lại nhen nhóm, và đủ thứ chuyện sẽ xảy ra.

Nhiều bậc cha mẹ sẽ lại nói dông dài về chìa khóa để thành công, nhưng rất ít ai dám nói thẳng thắn với con trẻ về tầm quan trọng của sức khỏe tâm thần. Cả mẹ và cha bao giờ cũng nhắc ngay con mình phải mang găng tay, khăn choàng khi kì đông tới, nhưng chẳng mấy ai nói gì về chuyện tự chăm sóc bản thân như một phần trị liệu sức khỏe tổng thể.

Sức khỏe tâm thần kém đang ngày một đe dọa cuộc sống trẻ em Canada. Tự tử là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu đối với người Canada lứa tuổi 15 đến 24, chỉ sau tai nạn giao thông. Tỉ lệ tự tử thanh thiếu niên ở nước ta đứng thứ ba trong số các nước phát triển. Mỗi năm 4.000 người chết trẻ vì tự tử.

Số liệu gần đây từ Viện Thông tin Sức khỏe Canada báo cáo về các lần nhập khoa cấp cứu của trẻ em và thanh thiếu niên tuổi từ 5 đến 24 và tìm kiếm phác đồ điều trị bệnh lý tâm thần hoặc chống lạm dụng thuốc đã tăng 63%, còn tỉ lệ nhập viện tăng 67% trong khoảng thời gian từ 2006 đến 2016.

Trong niên khóa cuối cùng, trường Đại học Guelph đã mất 4 sinh viên do tự tử. Kể từ tháng 1, Đại học Waterloo cũng báo cáo 3 trường hợp tự tử. Dù những con số này rất đáng báo động, đó vẫn có thể chưa phải là bức tranh thực về mức độ nghiêm trọng của vấn đề do các trường đại học và cao đẳng chỉ theo dõi những người tự tử trong khu giảng đường. Nhiều người như Andrea Graham, mẹ của Chase Graham, người vừa mới đây tự tử tại Đại học Waterloo, hiện đang kêu gọi ban giám hiệu theo dõi các trường hợp sinh viên tự tử nhằm hiểu rõ mức độ trầm trọng của quốc nạn này.

Sinh viên Canada đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng sức khỏe tâm thần trên giảng đường. Một hội thảo toàn quốc về sức khỏe tâm thần trên giảng đường lưu ý “Số lượng và mức độ nghiêm trọng của các trường hợp có vấn đề về sức khỏe tâm thần đang gia tăng… và các trường đại học phải đảm bảo rằng họ có đầy đủ các thông tin, công cụ và chiến lược cập nhật nhất để ứng phó”.

Một khảo sát do Hiệp hội các Dịch vụ  dành cho Sinh viên Cao đẳng và Đại học thực hiện cho thấy 43.000 sinh viên từ 41 trường đang có nguy cơ rơi vào các vấn đề sức khỏe tâm thần trầm trọng và có ý nghĩ tự tử – chiếm 1/5 tổng số học sinh trên Trung học cở sở. Con số này quả thật đáng báo động.

Trong vòng 3 năm qua, Đại học McGill đã chứng kiến số lượng sinh viên tìm kiếm trợ giúp tâm thần hay dịch vụ tư vấn tâm thần trên giảng đường gia tăng chóng mặt tới 57%. Khi trường Đại học Laval nâng cấp trung tâm hỗ trợ sinh viên dành riêng của mình, nhu cầu được hỗ trợ tăng tới 50%. Tại Đại học Montreal, số lượng sinh viên  đăng ký dịch vụ sức khỏe tâm thần tăng từ 9.669 năm 2013 lên 10.464 năm ngoái.

Lý do đằng sau nhu cầu thăm khám sức khỏe tâm thần tăng vọt này vẫn là chủ đề gây tranh cãi trong cộng đồng sức khỏe tâm thần, nhưng các chuyên gia dồng ý rằng vấn đề này quả thật quá lớn.

Hầu hết chuyên gia đồng ý rằng một phàn của vấn đề là do không đầu tư đủ vào các chương trình sức khỏe tâm thần. Canada còn kém xa khi xét tới mức độ đầu tư trong số các quốc gia công nghiệp phát triển cùng trình độ, với mức đầu tư đứng gần chót bằng trong số các quốc gia thành viên OECD.

Mức độ thiếu hụt trầm trọng các dịch vụ tư vấn sức khỏe tâm thần cho thanh thiếu niên Canada đồng nghĩa với việc người ta không phát hiện ra vấn đề này đã rất nhiều năm. Các chuyên gia đồng ý rằng không có duy nhất một lý do nào giải thích tại sao những lo ngại về sức khỏe tâm thần đang gia tăng, dù vẫn có một số lý thuyết có thể đưa ra.

“Không ai biết chính xác điều gì đang diễn ra”, Bác sĩ Glenda MacQueen, giáo sư tâm thần và hiệu phó trường y của Đại học Calgary trả lời trong một cuộc phỏng vấn với tờ Toronto Star. “Giới trẻ ngày nay đang chịu nhiều sức ép hơn bao giờ hết”.

Học phí ngày càng gia tăng cộng với tấm bằng cử nhân đang đà mất giá như châm thêm áp lực thành công. Sinh viên thường cảm thấy cần phải có tấm bằng thứ hai, thứ ba, mà như vậy thì lại nợ nần nhiều hơn. Khi bạn nghĩ đến một tương lai không đảm bảo cho bạn công việc ổn định, lương cao, chẳng ngạc nhiên khi có sự liên hệ giữa mức nợ của sinh viên và tình trạng sức khỏe tâm thần có phụ thuộc lẫn nhau?

Dạy con theo kiểu giám sát đêm ngày, trong đó phụ huynh làm hộ con nhiều hơn các thế hệ trước càng có khả năng khiến thanh thiếu niên không được chuẩn bị khi bước vào cuộc sống học xá độc lập và kém bền bỉ hơn khi đối mặt với những thất bại nhỏ nhặt.

Đối với nhiều thanh thiếu niên nhập cư, áp lực này càng thêm nặng gánh với nỗi sợ sẽ làm thất vọng gia đình họ. Một kịch bản quen thuộc trong rất nhiều gia đình nhập cư là các bậc cha mẹ hy sinh quên mình để con cái họ có được cuộc sống tốt đẹp hơn ở Canada. Trong một phần của nỗ lực đầu tư vì tương lai tươi sáng ơn ấy, các cha mẹ thường làm hộ con rất nhiều nên con chỉ cần tập trung vào học. Điều này khiến trẻ không được chuẩn bị cho các hoạt động trong cuộc sống thường ngày như chuẩn bị bữa ăn, giặt là hay lên kế hoạch ngân sách.

Mạng xã hội cũng đang có ảnh hưởng sâu rộng lên giới trẻ ngày nay. Chúng tạo ra một thế giới mở của việc giao tiếp và hội thoại liên tục khiến tâm trí giới trẻ hoảng loạn. Những lo ngại về việc bắt nạt trên mạng đang bủng nổ, nhưng điều khiến các chuyên gia lo lắng hơn vẫn là thời gian mà trẻ em và thanh thiếu niên dành để lên mạng, cũng như các tác động tiêu cực của ánh sáng xanh lên não, ảnh hưởng tới giấc ngủ và sức khỏe tâm thần.

Đến nay tiến bộ còn chậm, nhưng vẫn đang xảy ra. Nhờ sự hổ thẹn giảm bớt đối với sức khỏe tâm thần và nhận thức gia tăng về các dịch vụ có trong khu giảng đường, ngày càng nhiều sinh viên đang tìm kiếm trợ giúp sớm. Thống kê cho thấy một khi có thể nhận diện bệnh trầm cảm, trợ giúp sẽ tạo nên khác biệt cho 80% số người bị ảnh hưởng bởi bệnh này.

Những gợi ý để tâm lý khỏe mạnh

  • Thường xuyên đánh giá sức khỏe tâm thần của bạn: Hãy dành thời gian nghĩ về việc bạn đang cảm thấy ra sao. Phải coi đây là một ưu tiên.
  • Khám phá ngưỡng chịu stress tối ưu của mình: Chúng ta đều có những giới hạn chịu đựng stress khác nhau. Stress tích cực, chẳng hạn deadline, có thể cải thiện năng suất và thậm chí tăng cường năng lực của bạn. Khi ngưỡng chịu stress của chúng ta tăng lên, đây là thời điểm chúng trở nên ngợp và tiêu cực dàn. Stress tiêu cực đã được chứng minh làm hạn chế chức năng của thùy trán, gây ảnh hưởng tới trí nhớ và khả năng học hỏi. Bằng cách tối ưu hóa ngưỡng chịu stress của mình, bạn sẽ cải thiện sức khỏe tâm thần và khả năng học hỏi.
  • Lên kế hoạch và chuẩn bị: Hãy xem xét các yêu cầu đặc biệt hoặc các loại stress mà bạn đã, đang và sẽ đối mặt và chuẩn bị cho chúng. Hãy chuẩn bị đến trường bằng cách tự chuẩn bị bữa trưa, tự giặt là quần áo trong năm cuối của mình, hoặc đề nghị được tự mua đồ tạp hóa. Hãy trò chuyện với cha mẹ về lên kế hoạch ngân sách và điểm tín dụng.
  • Tập luyện: Hoạt động thể chất thường xuyên giúp cải thiện tình trạng tâm lý và có thể hạn chế trầm cảm đi 30%, chứng lo âu 40%. Tham gia một nhóm tập thể thao hay đến phòng tập cũng có thể hạn chế tình trạng cô đơn, do việc này kết nối bạn tới một nhóm những người cùng chia sẻ một mục đích chung.
  • “Tóm lấy” những khoảnh khắc xúc cảm tich cực: Hãy thử nhớ lại những khi bạn trải nghiệm niềm hứng khởi, an ủi, sự dịu dàng, tự tin, hay những cảm xúc tích cực khác.
  • Học cách đương đầu với những ý nghĩ tiêu cực: Ý nghĩ tiêu cực có thể lặp đi lặp lại và rất ầm ĩ. Hãy học cách gián đoạn chúng. Đừng cố gắng ngăn chúng (không bao giờ hiệu quả đâu), nhưng đừng để chúng chế ngự ta. Hãy cố làm xao lãng bản thân hay an ủi bản thân, nếu bạn chưa thể giải quyết vấn đề ngay.
  • Làm mỗi việc một lúc: Chẳng hạn, khi bạn đi ra ngoài dạo bộ hay dành thời gian với bạnbeè, hãy tắt điện thoại của mình và ngừng thực hiện danh sách “việc phải làm” trong đầu đó. Hãy tập trung thưởng thức mọi cảnh sắc, âm thanh và mùi hương mà bạn gặp.
  • Thưởng thức các thú vui: Theo đuổi một thú vui sẽ mang lại cân bằng cho cuộc sống của bạn khi nó cho phép bạn làm những điều mình thích đơn giản vì bạn thích làm điều đó, thoát khỏi áp lực của những công việc thường ngày. Nó cũng giúp não bạn luôn năng động.
  • Đặt ra các mục tiêu cá nhân: Các mục tiêu không nhất thiết phải tham vọng. Bạn có thể quyết định sẽ đọc hết quyển sách bạn bắt đầu đọc cách đây 3 năm; đi dạo quanh dãy phố nhà mình mỗi ngày; học cách đan len hoặc chơi bài bridge; gọi cho bạn bè thay vì toàn đợi điện thoại reo như trước. Dù bạn đặt mục tiêu thế nào thì khi đạt đượcnoó cũng giúp tăng mức độ tự tin và tạo cảm giác thỏa mãn.
  • Giữ một quyển nhật ký: Bộc lộ bản than mình sau một ngày căng thẳng giúp bạn có được cái nhìn toàn cảnh, phóng thích căng thẳng và thậm chí tăng cường khả năng chống chọi bệnh tật của cơ thể.
  • Chia sẻ chuyện cười: Cuộc sống thường hay trở nên nghiêm trọng, nên nếu bạn thấy có điều gì khiến bạn mỉm cười hay phá lên cười, hãy chia sẻ với người nào bạn biết. Chỉ chút chuyện cười thôi cũng có tác dụng lớn giúp chúng ta khỏe mạnh về trí óc!
  • Làm tình nguyện: Tình nguyện được coi là hoạt động “đôi bên cùng thắng” bởi lễ giúp người cũng chính là khiến mình cảm thấy tốt hơn. Cùng lúc đó, chúng cũng giúp bạn mở rộng mạng lưới xã hội, cho bạn những trải nghiệm học hỏi mới và mang lại sự cân bằng trong cuộc sống của bạn.
  • Biệt đãi bản thân: Nấu cho mình một bữa thật ngon. Tắm trong bồn tắm đầy bọt. Xem một bộ phim. Gọi cho bạn bè hay người thân mà lâu lắm rồi bạn không liên lạc. Ngồi trên ghế đá công viên và hít thở mùi hương cỏ cây hoa lá. Dù là gì đi nữa, cái này chỉ giành cho bạn thôi.
  • Mộng mơ: Nhắm mắt lại và tưởng tượng bạn đang ở một điểm đến trong mơ nào đó. Hít thở thật chậm và thật sâu. Dù đó là bãi biển, là đỉnh núi cao, là khoảng rừng tĩnh lặng, hay một căn phòng bạn ưa thích trong quá khứ, hãy để không gian êm ái này ôm ấp bạn trong cảm giác bình yên và thanh thản.