This content is also available in: English

Phố Hàng Nón - tranh sơn dầu - sưu tầm của ông Ngô Văn Quế. Phố này hồi trước gồm hai phố: đầu phố là phố Mã Vĩ chuyên làm và bán những thứ hàng thêu có tua dùng trang sức cho voi ngựa và cờ quạt, phục vụ cho quan lại phong kiến; phần giữa và cuối phố là Hàng Nón làm và bán các thứ nón lá, nón dứa.
Phố Hàng Nón – tranh sơn dầu – sưu tầm của ông Ngô Văn Quế. Phố này hồi trước gồm hai phố: đầu phố là phố Mã Vĩ chuyên làm và bán những thứ hàng thêu có tua dùng trang sức cho voi ngựa và cờ quạt, phục vụ cho quan lại phong kiến; phần giữa và cuối phố là Hàng Nón làm và bán các thứ nón lá, nón dứa.

Qua nhiều thời đại, các sĩ phu của Việt Nam là thành phần chuyên làm thơ và luyện tập thư pháp.  Khác với người Nhật Bản và Hàn Quốc, họ không có chú trọng hội họa.  Nghệ thuật cổ điển của Việt Nam phần nhiều là thành phẩm của những người nghệ nhân vô danh, những tác phẩm chạm trổ trong đình trong chùa ở các làng mạc trên khắp đất nước, ít ai biết được tác giả là ai.   Khi người Pháp mở trường Mỹ Thuật Đông Dương tại Hà Nội vào năm 1925, nghề họa sĩ ở xã hội Tây phương hoặc là vẽ chỉ để thoả mãn tâm linh theo triết lý nho giáo của phương Đông, hầu như đều không có trong giới trí thức Việt Nam.

Từ năm 1925 đến năm 1945 được xem là thời kỳ nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam được hình thành.  Họa sĩ người Pháp Victor Tardieu, người sáng lập ra trường Mỹ Thuật Đông Dương, và các giáo viên đã truyền bá các môn thẩm mỹ học, kỹ thuật và cách sử dụng chất liệu sơn dầu của Tây Âu cho các họa sĩ trẻ của Việt Nam.  Khác với các nghệ nhân của những dòng tranh dân gian cổ truyền Đông Hồ và Hàng Trống ở những giai đoạn trước khi hình thái nghệ sĩ được xác lập, các sinh viên của trường Mỹ Thuật có được ý thức về một phong cách nghệ thuật riêng.  Lần đầu tiên, họa sĩ Việt Nam bắt đầu ký tên vào tranh, đón nhận sự bình phẩm và chịu trách nhiệm về tác phẩm của mình.   Tranh của thế hệ đầu tiên tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Đông Dương đã rất thành công tại các triển lãm quốc tế tại Paris (1931), Rome (1932), Bỉ (1935) và Nhật Bản (1940).

Bùi Xuân Phái là một trong những họa sĩ thuộc thế hệ cuối cùng được tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Đông Dương trước khi trường bị tạm thời đóng cửa vào năm 1945.  Cùng thời với Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, và Dương Bích Liên, bốn vị này là “Tứ Kiệt” có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam hiện đại.

Bùi Xuân Phái đã được sinh ra vào ngày 1 tháng 9 năm 1920 trong một gia đình nho học, có nhiều người trong gia tộc đỗ đạt làm quan.  Cha của ông, cụ Bùi Xuân Hộ đỗ Tú tài và từng có chân trong Hội đồng tư vấn Bắc Kỳ, nhiều năm tận tuỵ trông nom việc dân, liêm khiết và thương người.   Dù không được nối nghiệp nghề thuốc của cha nhưng trong thâm tâm ông Hộ vẫn muốn những đứa con mình theo con đường của ông nội, làm lương y cứu người giúp đời.   Ông biết rằng học vấn không giúp cho ông làm giàu, nhưng cho ông hiểu hơn cái khổ, cái nhục của người thiếu học, chứng kiến sự thất học chỉ đưa người ta đến chỗ lạc hậu và trở thành nô lệ ở thời đại đó.  Nguyện vọng của ông Hộ sau này được người em của Bùi Xuân Phái là bác sĩ Bùi Xuân Tám kế tục.

Bùi Xuân Phái khát khao để trở thành một họa sĩ lúc còn rất nhỏ tuổi.  Từ thời niên thiếu, ông đã được một tờ báo đặt vẽ tranh vui thường kỳ.   Với số tiền nhuận bút ít ỏi này, ông lẳng lặng ghi danh theo học lớp dự bị trường Mỹ Thuật Đông Dương.    Đó là điều khiến cho cha ông không mấy vừa lòng, vì lúc đó mọi người không nhìn nhận vẽ là một nghề cao quý.   Văn còn có trường lớp, thi cử, bảng vàng bia đá.   Ông tiến sĩ vinh quy được cả làng võng lọng đón rước.   Trong lịch sử, vinh hạnh đó chưa có người họa sĩ nào đạt được.   Thân phận người họa sĩ lúc đó chẳng khác nào thợ mộc hay các nghề thợ thuyền khác.   Có lẽ vì quan niệm đó mà cụ Hộ không muốn Bùi Xuân Phái đi vào con đường hội họa.   Nhưng trước khi nhắm mắt, ông còn kịp biết được cái tin tranh vẽ của người con trai vừa tròn 20 tuổi của ông, được chọn đi triển lãm ở Tokyo, và cũng ngay tại triễn lãm đó con ông đã bán được bức tranh đầu tiên vào năm 1940.

Năm 1956, Bùi Xuân Phái đã được mời trở lại trường Mỹ Thuật với vai trò giảng viên.  Nhưng vì tham gia phong trào “Nhân văn Giai phẩm” với một số văn nghệ sĩ và trí thức sống ở miền Bắc, yêu cầu tự do ngôn luận, tự do sáng tạo và tranh đấu cho nhân quyền, ông đã bị bắt đi học tập lao động.  Và mặc dù rất yêu thích công việc giảng dạy và cơ hội tương tác nghệ thuật với các học sinh của mình, ông đã bị nhà trường ép buộc viết đơn xin thôi không được giảng dạy ở trường Mỹ Thuật nữa.  Đó là một thời điểm khắc nghiệt nhất trong cuộc đời của Bùi Xuân Phái.  Không chỉ bị mất đi nguồn thu nhập ổn định để nuôi sống gia đình, ông còn không được phép triễn lãm các tác phẩm của mình cho đến năm 1984, gần 30 năm sau.

Mặc dù phải sống trong một cuộc sống đầy lo âu, gánh nặng, nhiều khó khăn về phương diện kinh tế, ông vẫn dồn hết tâm huyết vào nghệ thuật.  Hội họa là cách Bùi Xuân Phái truyền đạt cảm xúc từ nội tâm của mình.  Với các nghệ sĩ cùng thời, có lẽ ông là người vẽ nhiều nhất, ông đã sáng tạo hàng ngàn tác phẩm.  Bùi Xuân Phái vẽ bất cứ chỗ nào ông có thể vẽ được, và không câu nệ trên chất liệu, từ mảnh giấy học trò, bao diêm, cho đến bao thuốc lá.  Một số tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là những bức tranh sơn dầu trên tờ giấy báo.  Ông tin rằng một người nghệ sĩ cần phải có khả năng vẽ trong bất kỳ trường hợp nào. Nếu không có sơn dầu, thì ông phác họa bằng bút chì.  Ngay cả những lúc không có vật liệu nào hết, một người họa sĩ luôn luôn vẫn có thể tiếp tục vẽ trong tâm trí của mình.  Cái đáng ngại nhất đối với ông là khi người hoạ sĩ không còn thiết tha gì đến vẽ nữa.  Hình như đúng với cảm xúc từ câu thơ của Du Tử Lê “Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời“.  Bùi Xuân Phái cũng có một nỗi nhớ niềm thương như vậy với người tình hội hoạ.   Không vẽ là ngứa ngáy, chịu không được, ngày nào cũng phải vẽ cho đến chết.
Nhưng Bùi Xuân Phái không chỉ vẽ tranh, ông còn xây dựng một hệ thống tư liệu để vẽ rất tỉ mỉ và liên tục ghi nhật ký. Ông chỉ ghi nhận lại những suy tưởng riêng cho bản thân, song tất cả đều thể hiện quan điểm mang tính nghệ thuật trong con người ông; bao trăn trở phải làm thế nào để tạo ra những bức tranh đẹp hơn, làm sao để thể hiện bản chất nghệ thuật rõ nét hơn.  Ông không hề có ý tuyên ngôn gì về nghệ thuật hay khẳng định triết lý thẩm mỹ với ai, chỉ để tự nhắc nhở bản thân tu dưỡng nên người, nhất là làm người nghệ sĩ trong đời sống thực tế.   Những dòng chữ của ông thể hiện cho chúng ta thấy được những biến đổi phức tạp trong cuộc sống mà ông đã trải qua, nghi nhận những gì ông đã ngộ được trong cuộc hành trình của mình trên con đường nghệ thuật và trong cách sống.   Hồi ký cá nhân của Bùi Xuân Phái là phần ngầm của tảng băng, sức mạnh của sự sáng tạo, là chứng cứ cho sự tồn tại bền vững của hàng ngàn kiệt tác ông để lại cho đời sau.

Những dòng chữ đầu tiên trong Nhật ký của Bùi Xuân Phái
Những dòng chữ đầu tiên trong Nhật ký của Bùi Xuân Phái

Bùi Xuân Phái viết “Phong cách là một sự chân thành.  Người thế nào thì phong cách thế ấy.  Vì vậy bắt chước một phong cách nào đó thì dở.  Cái nhìn (tựa như cái kính) của mình chứ không phải cái nhìn đi mượn!” Đúng là nếu mọi người chỉ biết bắt chước phong cách của Leonardo da Vinci, thì chúng ta sẽ không bao giờ có Picasso hay sự độc đáo riêng biệt của Dalí.   Bùi Xuân Phái cũng nghi nhận “Tìm hiểu thực tế.  Nghiên cứu sâu thực tế từ đó mới đi sâu vào được nghệ thuật.”  Ông là một họa sĩ hiểu rất rõ về những chủ đề nghệ thuật của mình, chỉ bằng vài nét chấm phá, thì đã thể hiện được cái cốt lỗi thâm sâu, tinh chất của những đề tài ấy.  Con người thật thà chỉ biết vẽ sự thật, chỉ có thể biểu lộ những nỗi niềm thật.  Bùi Xuân Phái không nói về những điều ông không hiểu thấu đáo, không vẽ những điều ông chưa nhìn thấy sự thật.  Mặc dù ông đã rất thành công với các chủ đề như chân dung, phong cảnh miền núi, khoả thân và Chèo, nhiều người biết đến mảng đề tài Phố Cổ Hà Nội của ông nhất, dòng tranh này được quần chúng mến mộ gọi là “Phố Phái”.

Phố Ngõ Gạch - tranh sơn dầu - sưu tầm của ông Trần Hậu Tuấn. Phố này trước chuyên bán gạch ngói và vôi, cùng với phố Nguyễn Văn Siêu chính là dòng sông Tô Lịch cũ, đã chảy qua phố này trước khi đổ ra sông Hồng.
Phố Ngõ Gạch – tranh sơn dầu – sưu tầm của ông Trần Hậu Tuấn. Phố này trước chuyên bán gạch ngói và vôi, cùng với phố Nguyễn Văn Siêu chính là dòng sông Tô Lịch cũ, đã chảy qua phố này trước khi đổ ra sông Hồng.

Phố Ngõ Gạch – tranh sơn dầu – sưu tầm của ông Trần Hậu Tuấn.   Phố này trước chuyên bán gạch ngói và vôi, cùng với phố Nguyễn Văn Siêu chính là dòng sông Tô Lịch cũ, đã chảy qua phố này trước khi đổ ra sông Hồng.

Bùi Xuân Phái đã sống ở Hà Nội rất nhiều năm, ông là một nhà Hà Nội học về cấu trúc phố, về con người và xã hội của thế kỷ 20.  Mỗi ngày ông thường xuyên đi tản bộ giữa lòng phố cổ, khi cần ông dừng lại để ghi chép.  Ít khi ai gặp Bùi Xuân Phái vẽ ngay trên phố, tất cả tranh phố hầu hết được vẽ theo trí nhớ.   Đối với ông Hà Nội đã quá thân thuộc, ông vẽ phố như trò chuyện với người bạn tri kỷ.  Tuy nhiên Bùi Xuân Phái nhận định vẽ không phải là chép, không phải là đo cho chính xác.   Người họa sĩ dùng trí tuệ và cảm xúc để phân tích thực tế và chuyển sang phần hội họa trong đó có óc tưởng tượng hoạt động.  Nếu quá nặng về ghi chép cho đúng thì tranh sẽ mang ít tính chất hội họa, phần này nên nhường chỗ cho nhiếp ảnh.   Cái đẹp của tranh, phần cốt yếu là phần sáng tạo của người họa sĩ.  Cho nên người ta thấy Phố Phái quen mà lạ.   Quen vì mọi người nhanh chóng nhận ra phong cảnh vì phố thực, nhưng lạ vì cái thực ấy được nhìn qua lăng kính của Phái, tường thuật nhiều câu chuyện khác nhau trên cùng một khu phố, những vẽ đẹp của đời sống của người Việt Nam trong thế kỷ 20 đã được thể hiện theo phong cách và tình cảm sâu đậm của Bùi Xuân Phái.  Có những mảng tường tưởng như là bẩn, nhưng thật sự những loang lỗ, những dấu vết thời gian ấy thêm vào óc tưởng tượng và cảm xúc của người hoạ sĩ đã tạo ra những vẽ đẹp bất ngờ.

Xin mượn lời của nhà nghiên cứu mỹ thuật, họa sĩ Nguyễn Quân: “… Hoạ sĩ Bùi Xuân Phái không bao giờ tự ngắm mình, chỉ suy ngẫm để ngẫu nhiên lạc vào tâm tư của chính mình, tự họa và chân dung của Ông không là gương soi diện mạo, mà là gương soi của đường điện tâm đồ súc cảm bên trong, ở dưới mặt trăng, lịch sử của cá nhân, nắng gió của thời gian, dấu vết của lao động, của đau đớn và niềm vui, đọng lại như dấu ấn của số phận, kỷ niệm của đời người”.

Bùi Xuân Phái rất ngưỡng mộ nhiều họa sĩ Châu Âu nổi tiếng như Picasso, Chagall, Matisse.   Ước nguyện của ông là có thể viếng thăm viện bảo tàng Louvre tại Paris và nhà của Picasso, nơi mà người họa sĩ vĩ đại ấy đã từng sống và làm việc.  Nhưng đến khi ông nhận được lời mời để được triễn lãm tại Pháp cùng với sự chấp thuận chính thức của chính phủ Việt Nam, thì ông phát hiện mình bị ung thư phổi.  Sức khỏe của ông xuống dốc rất nhanh chóng và qua đời chỉ trong vòng vài tháng sau vào ngày 24 tháng 6 năm 1988.  Có lẽ vì quá mệt mỏi khi nhìn lên, ông đã vẽ bàn chân của mình và chai huyết thanh treo lơ lững ở cuối chân giường trước khi trút hơi thở cuối cùng.  Bùi Xuân Phái vẫn vẽ những gì là thật cho đến giây phút cuối.

Rất nhiều thứ đã thay đổi với Việt Nam, một đất nước đang cố gắng hòa mình với những lối sống của xã hội phương Tây. Ngày nay nhiều họa sĩ có thể kiếm tiền và có được một cuộc sống thoải mái.  Tuy nhiên, Phố Cổ Hà Nội không còn nhiều vẽ cổ kính như xưa nữa với những bản hiệu KFC và Dunkin’ Donuts.   Có lẽ qua phố cổ, Bùi Xuân Phái cũng có gì đấy muốn giữ lại một sự lưu luyến với những các thế hệ trước đó, giữ lại một vẽ đẹp hết sức bình dị của phố Việt Nam.  Và để hiểu được sự phát triển nghệ thuật Việt Nam hiện đại, chúng ta phải cố gắng hiểu được các áp lực xã hội và chính trị ảnh hưởng đến một thế hệ nghệ thuật mang nhiều tính chất cá nhân và biểu cảm.   Đối với một người như tôi đã lớn lên và sống gần hết cả đời mình ở hải ngoại, có thể tôi không bao giờ hiểu hết được những sự đàn áp tư tưởng, những quan điểm của xã hội phong kiến, những khát khao để được tự do văn hoá, những khó khăn trong đời sống mà Bùi Xuân Phái và nhiều nghệ sĩ trong thế hệ của ông đã trải qua.  Nhưng qua những cảm xúc và linh hồn của Phố Phái, tôi cảm thấy may mắn được lạc về những khu phố Việt Nam với vẽ đẹp chỉ có người đã mòn dấu chân mình trên phố mới in được vào trong nhãn tiền, vào miền ký ức, thấy được vẽ đẹp chân phương của những cây đa cổ thụ, những bức tường rêu phong, thấy được vẽ đẹp của Việt Nam qua lăng kính của một người hiểu và yêu thích nó rất nhiều như Bùi Xuân Phái.

Hồ Hoàn Kiếm - tranh sơn dầu - tài liệu của gia đình Bùi Xuân Phái.  Giữa hồ có cái gò nhỏ gọi là gò Rùa trên đó xưa kia có đình Tả Vọng của chúa Trịnh.   Cuối thể kỷ 19, đình đã bị đổ nát chỉ còn lại thềm, và một ngọn tháp đã được dựng lên trên nền này, tức là tháp Rùa hiện nay.   Phía Hàng Khay nhìn sang thì có 2 cửa, phía Hàng Trống nhìn lại là 3 cửa.  Bùi Xuân Phái đã vẽ chính xác theo những gì ông thuộc, theo cảm quan của người nghệ sĩ chứ không phải vẽ theo máy móc số học.
Hồ Hoàn Kiếm – tranh sơn dầu – tài liệu của gia đình Bùi Xuân Phái.  Giữa hồ có cái gò nhỏ gọi là gò Rùa trên đó xưa kia có đình Tả Vọng của chúa Trịnh.   Cuối thể kỷ 19, đình đã bị đổ nát chỉ còn lại thềm, và một ngọn tháp đã được dựng lên trên nền này, tức là tháp Rùa hiện nay.   Phía Hàng Khay nhìn sang thì có 2 cửa, phía Hàng Trống nhìn lại là 3 cửa.  Bùi Xuân Phái đã vẽ chính xác theo những gì ông thuộc, theo cảm quan của người nghệ sĩ chứ không phải vẽ theo máy móc số học.

Bùi Xuân Phái đã qua đời gần 30 năm nhưng ảnh hưởng của ông vẫn còn đang được cảm nhận ngày hôm nay.  Đằng sau tất cả các kiệt tác là một tâm hồn nhẹ nhàng và nhạy cảm, phấn đấu để vượt qua những khó khăn của cuộc sống hàng ngày, nhưng không bao giờ có một lời than trách.  Bùi Xuân Phái không có đam mê tìm kiếm một ngôn ngữ nghệ thuật mới, mà chỉ say sưa thể hiện cảm xúc của mình.

Bức tranh tự họa cuối cùng
Bức tranh tự họa cuối cùng

Mặc dù phong cách của Bùi Xuân Phái phảng phất tính chất nghệ thuật của trường phái Paris mà ông rất hâm mộ, nhưng cảm xúc nghệ thuật rõ ràng là của người Việt Nam.  Khi được xem những tác phẩm, không chỉ người Việt Nam mà luôn cả người nước ngoài đều rung động với tâm tư và xúc cảm thầm kín của Bùi Xuân Phái, làm cho chúng ta quên đi sự hiện diện và ảnh hưởng của kỹ thuật bút cọ Tây Phương.  Sự quyến rũ này, cùng với sự chân thành của Bùi Xuân Phái đã cho chúng ta thấy được những tuyệt phẩm của ông rất là Việt Nam.

Bức tranh tự họa cuối cùng hoàn tất lúc 10 giờ tối ngày 23 tháng sáu năm 1988 trước khi vào bệnh viện.   Chỉ vài tiếng đồng hồ sau, Bùi Xuân Phái trút hơi thở cuối cùng vào lúc 2 giờ 40 sáng ngày 24 tháng sáu.
“Thời giờ đi rõ thật nhanh
Đã đi không thể có phanh nào kìm
Vẽ đi kẻo tiếc con tim
Đập đi đập lại rồi im lúc nào ….”
Bùi Xuân Phái

 

 

 

 

Bức tranh tự họa cuối cùng hoàn tất lúc 10 giờ tối ngày 23 tháng sáu năm 1988 trước khi vào bệnh viện.   Chỉ vài tiếng đồng hồ sau, Bùi Xuân Phái trút hơi thở cuối cùng vào lúc 2 giờ 40 sáng ngày 24 tháng sáu.
“Thời giờ đi rõ thật nhanh
Đã đi không thể có phanh nào kìm
Vẽ đi kẻo tiếc con tim
Đập đi đập lại rồi im lúc nào ….”
Bùi Xuân Phái